• Luật sư cho doanh nghiệp
  • Luật sư tranh tụng
  • Tư vấn pháp luật doanh nghiệp
  • Tư vấn mua bán sáp nhập doanh nghiệp
  • Tư vấn luật hôn nhân gia đình
  • Tư vấn thuế doanh nghiệp
  • .
  • .
  • .
  • .
  • .

Trang nhất » Hỏi đáp luật sư » Chuyên đề dự án đầu tư

Hỏi: nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp Việt Nam?

Thứ sáu - 18/04/2014 14:46
Hỏi: nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp Việt Nam?

Hỏi: nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp Việt Nam?

Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp Việt Nam đã được thành lập theo Luật Doanh nghiệp thì khi cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư cấp lại Giấy chứng nhận đầu tư cho doanh nghiệp theo số đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam đã được cấp hay cấp lại số mới? Trong trường hợp cấp lại số mới, doanh nghiệp có được giữ lại nguyên mã số thuế, con dấu hay không?

Theo quy định tại Điều 56 Nghị định 108/2006/NĐ-CP, nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam theo 3 trường hợp:

- Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam;

- Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam;

- Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Hoạt động mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài phải lưu ý các quy định sau:

Một là, việc mua cổ phần ở các doanh nghiệp cổ phần hoá thực hiện theo quy định tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;

Hai là, việc góp vốn, mua cổ phần phải thực hiện đúng các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thực hiện các cam kết gia nhập WTO về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường;

Ba là, ngoài các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, về đầu tư , việc góp vốn, mua cổ phần phải áp dụng các quy định của pháp luật chuyên ngành ví dụ pháp luật về đất đai, sở hữu trí tuệ,...

Trình tự, thủ tục đối với việc Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam quy định riêng theo từng trường hợp trên đây như sau:

Trường hợp (i): nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; Theo đó, không làm thay đổi pháp nhân, chỉ thay đổi cơ cấu sở hữu tài sản trong doanh nghiệp ; doanh nghiệp đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo thủ tục quy định tại Điều 31 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP;

Trường hợp (ii): nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; theo đó thay đổi chủ sở hữu ; doanh nghiệp Việt Nam đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 88/2006/NĐ-CP đối với các thủ tục có liên quan;

Nhà đầu tư nước ngoài báo cáo Cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án quy định tại Điều 40 của Nghị định 108/2006/NĐ-CP để đăng ký lại như đối với quy định cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Trường hợp (iii): nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư (thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh) theo quy định tại Điều 51, 52 Nghị định 108/2006/NĐ-CP tại Cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án quy định tại Điều 40 của Nghị định này. 
Trường hợp thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì số Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là số đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp được cấp mới theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Phụ lục đính kèm Quyết định số 1088/2006/QĐ-BKH ngày 19/10/2006.

Các quy định về quyền được giữ lại tên doanh nghiệp, con dấu, tài khoản và mã số thuế đã đăng ký chỉ áp dụng đối với trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy phép đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thực hiện đăng ký lại theo quy định của Nghị định 101/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006.

Việc doanh nghiệp mua được kế thừa mã số thuế của doanh nghiệp bán thực hiện theo quy định tại Điểm 5 Mục IV Thông tư số 10/2006/TT-BTC ngày 14/2/2006 của Bộ Tài chính về mã số đối tượng nộp thuế qui định khi có hợp đồng hoặc thỏa thuận về việc bán doanh nghiệp, thì doanh nghiệp bán phải thông báo bằng văn bản, kèm theo hợp đồng mua bán doanh nghiệp, bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký thuế và quyết toán thuế gửi cho cơ quan thuế. Mã số thuế của doanh nghiệp mua giữ nguyên là mã số của doanh nghiệp bán. Riêng trường hợp doanh nghiệp bán là doanh nghiệp tư nhân thì doanh nghiệp mua được cấp mã số thuế mới.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Liên kết

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 32


Hôm nayHôm nay : 2078

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 65467

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4477544

Fanpage IMCLAW